Pages

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Diệu đi rồi nhưng câu chuyện còn mãi

       Ở Bình Trị Thiên thăm bão lụt, hôm nay Hoan mới ra, và xuống đến sân bay Hà Nội thì mới hay tin Diệu mất. Anh Cở, chủ tịch Nghĩa Bình quê Diệu, quê má Gò Bởi, khóc ở sân bay. Đến 51 Trần Hưng Đạo thì quan tài sắp lên xe tang! May còn kịp! May ư? Hở Diệu? Cận đâu? Cận 23 mới về! Cháu Vũ của bác Diệu đâu? Cháu Vũ chưa về! Anh Lành đâu? Anh Lành cũng đang họp ở nước ngoài! Sao mà Hoan ngu thế! cả nhà ôm Hoan khóc, Hoan đến thăm Diệu còn hỏi Diệu đâu! Diệu nằm kia, qua mặt kính còn thấy Diệu.

       Hoan cố nhìn, cố nuốt cái hình dáng Diệu, rời đây vĩnh viễn chỉ còn thấy trên phim trên ảnh mà thôi. Nhưng Diệu đừng buồn (Diệu sinh thời luôn vui mà tính hay buồn). Những người thân yêu của Diệu có gần đủ. Xuân Như, em gái Diệu, Huy em trai Diệu, Tịnh Hà đứa em mà Diệu hết sức chăm lo, ở trong Nam cũng vừa ra kịp, một bộ quần áo đơn sơ giữa mùa gió lạnh này. Và bạn bè, bạn bè!… Anh em văn nghệ cưu mang đùm bọc lấy nhau, từ các anh già bảy tám mươi như anh Phan, anh Dụng, anh Lự, cho đến các anh em trẻ Vũ Quần Phương, Đỗ Chu… đến những anh chị em mới viết bài thơ đầu, truyện ngắn đầu, tất cả đều biết Diệu đi là một tôn thất vô cùng to lớn.

Xuân diệu


        Câu ấy chúng ta nói quá hoá nhàm, nhiều khi vô nghĩa, nhưng trên xe tang, Hoàng Trung Thông người từng đề tựu cho Diệu, Thông và Hoan đều thấy rằng Diệu từng là một bóng cây to che mát một góc vườn văn học Việt Nam nửa thế kỷ này. Từ nay cho đến cuối thế kỷ góc vườn ấy sẽ quang đi! Ôi, không phải lúc làm cái công việc cân đo lường ấy đâu Diệu ạ! Mà quần chúng chạy theo xe tang kia họ đã đánh giá rời. ừ, mới hôm qua thôi, Diệu còn cót két đạp xe đạp ngoài đường, sắp hàng mua các thứ, hay đi dạo chơi trước khi về căn phòng nhở ở 24 Cột Cờ “Nhà ta 24 Cột Cờ, Ai quen thì tới, ai lờ thì thôi”. Hôm qua Diệu còn đó, họ chưa vội đánh giá, chưa biết đặt chỗ nào, nhưng nay thì họ đã đánh giá rời: họ đã dành những dòng lệ quý nhất cho Diệu như khi cho cha mẹ, vợ con, cho người yêu mình, cho các chiến sĩ vì họ đổ máu trên các chiến trường. Và chỗ nằm của Diệu họ cũng đặt xong: cùng với Tản Đà, Tú Xương, Yên Đồ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi… nghĩa là những tinh hoa của giống nòi, của dân tộc mà Diệu đã từng ca tụng bằng tài năng lớn và tâm huyết lớn của mình.

        Hoan từng nói đùa là năng suất của Diệu bằng cả một Viện văn chương mà Diệu vừa là viện trưởng, vừa là viện phó, bởi vì chỉ một mình Diệu đã viết hầu hết các danh nhân văn học! Viết hay khó ai thay được!



Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ duyên xuân diệu, nhà thơ xuân diệu

Những tình cảm dành cho Xuân Diệu

      Theo chỗ chúng tôi biết, nhà thơ Huy Cận đang hoàn thành bản thảo Hỏi ký song đôi “chung cho cả hai người”, dày sáu, bảy trăm trang viết tay, khi in ra sẽ là ngót nghìn trang in khổ 13xl9cm. Hiện nhà thơ còn đang giữ bí mật. Tuy nhiên cũng có những điều tác giả Hỏi ký song đôi đã dần dần “tiết lộ” cho bàn dân thiên hạ biết. Nhà thơ Huy Cận còn viết khá nhiều thơ về Xuân Diệu để tặng Xuân Diệu và viếng Xuân Diệu. Sau đây là hai bài Huy Cận không còn giữ bí mật, vậy xin phụ chép sau đây để bổ sung cho bài viết này của nhà thơ trong khi chờ đợi Hỏi ký song đôi.

Bài thứ nhất:

TẠI NGÔI NHÀ 24 ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đêm đêm trên gác đèn chong

Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay.

Dưới nhà bút chang rời tay

Bền bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ.

Bạn từ lúc tuổi còn thơ

Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong

Ánh đèn trên gác, dưới phòng

Cũng là đôi kén nằm trong kén trời.

Sáng ra gõ cửa: “Diệu ơi,

Nghe dùm thơ viết đêm rời ra sao”.

Diệu còn ngái ngủ: “Đọc mau!

Nghe rời, xem lại từng câu mới tường”.

Dưới nhà, trên gác thông thường

Dòng thơ không dứt giữa luởng tháng năm.

Đứa năm bảy, đứa năm lăm,(1)

Trăm mười hai tuổi vẫn chăm với đời.

Hoa hoàng lan nở ngát trời,

Hưởng hoàng lan ấm là nơi gió về.

Tại 24 Điện Biên Phủ – Hà Nội đêm 19-7-1974


 Xuân Diệu


Bài thứ nhì:

VIẾNG MỘ BẠN

Lạnh lắm trời ơi, Lạnh lắm không?

Cận về không kịp, chỉ còn trông

Đất vàng một mầm hoa vừa héo.

Nằm một, giờ đây Diệu lạnh lùng

Năm mươi năm trước thuở ra đời

Thơ của Huy Xuân trái kết đôi

Tình hạn Huy Xuân đời ấp áp

Tiếng ai thăm hỏi: Xuân đâu rồi?

Xuân hãy còn đây, Xuân ở đây

Xuân đi, Xuân vẫn thắm đời này

Dọc đường tiễn Diệu về an nghỉ

Muôn vạn hà con mắt lệ đầy.

Hà Nội, đêm 23-12-1985

CHẾ LAN VIÊN

RỔI ĐÂY VĨNH VIỄN…!

    Trời ơi, Hoan, hay Cận, hay Hanh, hay Lư chúng ta lại phải viết cho nhau về chuyện này ư? Mấy năm nay anh em mất nhiều, Hoan phấp phồng lo lúc thì cho người này, lúc thì cho đứa khác trong lứa tuổi chúng mình. Nhưng phải đâu là Diệu, Diệu còn khoẻ lắm mà! Anh em bảo một tuần trước đây Diệu đang còn khoẻ. Bài viết rất hay của Diệu là bài viết cho anh chị em nhà văn trẻ hôm nay đến khóc trước quan tài.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ tình của xuân diệu, nha tho xuan dieu

Nhớ về Xuân Diệu

    Cuối năm 1940, Diệu đi làm tham tá thưởng chánh ở Mỹ Tho, vì kế sinh nhai (“Cơm áo không đùa với khách thơ”), cũng như tôi học cao đẳng Nông Lâm là cốt để có nghề tay trái. Chúng tôi tạm sống xa nhau, buồn đứt ruột, hàng tuần viết thư cho nhau, có tuần hai, ba lá thư.

    Từ đầu năm 1942, tôi đã tham gia hoạt động Việt Minh, nhưng chưa có dịp cho Diệu biết. Diệu thì chờ tôi đậu kỹ sư là “cuốn gói” trở về Hà Nội. Hè 1942, tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở nghiên cứu tầm tang. Diệu điện hỏi tôi: “Diệu từ chức được chưa?”, tôi điện trả lời: ”Từ chức ngay! Về ngay Hà Nội!”. Chúng tôi sống trên gác phố Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ, “làm nhà xuất bản Huy Xuân”. Thời kỳ này (cuối năm 1943, đầu năm 1944), tôi hướng dẫn Diệu vào con đường hoạt động bí mật (trong Việt Minh và trong Đảng Dân chủ).

 Xuân Diệu


     Cuối năm 1944, Diệu về thăm quê ở Can Lộc (Hà Tĩnh), về thăm gia đình tôi ở xã An Phú và rất bí mật nói với mẹ tôi: “Anh Cận hoạt động Cách mạng rời bà ạ. Nếu cách mạng thành công thì không nói làm gì, nếu có điều gì chẳng may, thì con sẽ thay anh Cận cùng bà lo việc gia đình”. Mẹ tôi ứa nước mắt: và anh Diệu đã giúp mẹ tôi một số tiền để trả nợ. Cuối tháng 7-1945, tôi đi dự Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (Thái Nguyên), thì Diệu ở lại Hà Nội, “giữ nhà”. Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng tôi chuyển về ở nhà số 50 phố Hai Bà Trưng (đằng sau Thư viện quốc gia). Diệu hăng say hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc, tôi thì phụ trách công tác ở Bộ Canh nông và ở Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.

    Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng tôi về Hà Đông rời lên Việt Bắc, tôi ở ATK (an toàn khu) của Chính phủ, Diệu ở Lục Giá, rời ở Thanh Cù, làm báo Văn nghệ, nhưng cứ khoảng vài tháng một lần, Diệu vai mang ba-lô đi xe đạp và đi bộ về gặp tôi ở ATK. Lại những buổi thơ giữa sương đêm của rừng Việt Bắc. Cũng ở trong rừng Việt Bắc những năm đầu kháng chiến cả hai chúng tôi được kết nạp vào Đảng. Giải phóng miền Bắc chúng tôi về Hà Nội, được bố trí ở nhà số 24, đường Cột Cờ, nay là phố Điện Biên Phủ. Chúng tôi lại hăng say công tác, hào hứng làm thơ, “đi thực tế”.

    Những năm chống Mỹ, cứu nước, hài đứa hơn mười lần đi khu bôn khói lửa, nhiều lần suýt chết dọc đường vì bom Mỹ. Dọc đường, chúng tôi đọc thơ cho bộ đội, cho dân công nghe, sông cuộc đời chiến sĩ, trong không khí hào hùng của đất nước. Giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, chúng tôi lại hăng say “đi thực tế” ở đồng bằng sông cửu Long, ở Tây Nguyên, ở khu năm “Khúc ruột miền trung”, nhất là Diệu ham đi miền Nam mà anh đã hiểu biết và mến thưởng nhiều từ trước. Và Diệu đi bình thơ, có tới gần một nghìn cuộc bình thơ cho đến ngày Diệu mất. Còn ở ngôi nhà số 24 Điện Biên Phủ thì “Đêm đêm trên gác đèn chong – Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay – Dưới nhà bút chẳng rời tay – Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ – Bạn từ lúc tuổi còn thơ- Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong – Ánh đèn trên gác, dưới phòng, – Cũng là đôi kén nằm trong kén trời”.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: tho cua xuan dieu, nhà thơ xuân diệu

Huy Cận nói về Xuân Diệu

       Anh Xuân Diệu đột ngột từ giã chúng ta ra đi ngày 18-12-1985, còn mấy tháng nữa thì tròn năm mươi năm của tình bạn chúng tôi. Sắp tới Tết đầu tiên không còn Xuân Diệu, tôi xin ghi vội những chặng đường chính của Huy – Xuân.

      Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường “tú tài” Khải Định, Huê (Trường Quốc học cũ). Anh Diệu (ở Hà Nội về) học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và “đồng thanh tưởng ứng”, kết bạn với nhau gần như tức khắc. Tình bạn của chúng tôi, ngay lúc đó, không chỉ đóng khung trong địa hạt văn chưởng. Tháng 5-1937, trong trường có cuộc vận động đón Gôđa, đại diện của Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp đến Huế. Anh Diệu cầm đầu đám học sinh ba lớp ban tú tài đi đón. Tôi còn nhớ rõ anh Diệu bảo người gác cổng khoá cổng trường lại, không cho những kẻ nhút nhát rút lui về. Sau cuộc đón ấy, anh Diệu, tôi và một số anh em khác bị cắt học bổng, suýt nữa thì bị đuổi.

       Tựu trường 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo Ngày nay, tôi học năm thứhai ban tú tài, làm gia sư ở nhà một bác sĩ. Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hàng tuần và tôi gửi cho Diệu những bài thơ tôi vừa làm xong.

Huy Cận


        Tết năm Dần 1933, bài Chiều xưa của tôi được đăng cùng trong một khung với bài Cảm xúc của Xuân Diệu trên báo Ngày nay, và Tết đó tôi từ Huế ra chơi với Diệu ở Hà Nội, lần đầu tiên tôi làm quen với đất nghìn năm văn vật, và lúc trở về Huế mang theo một cành đào. Hè 1938, tôi ra sông với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết Truyện cái giường, một số bài thơ, còn tôi thì viết Buồn đêm mưa, Trăng lên, Đi giữa đường thơm và mấy bài khác. Hè 1939, Diệu viết bài giới thiệu Thơ Huy Cận, sau một năm tôi đã có thơ đăng đều trên báo Ngày nay. Tựu trường năm 1939, sau khi đậu tú tài toàn phần, tôi dạy từ hai tháng ở Vinh và tháng mười ra Hà Nội học Trường cao đẳng Nông Lâm. Diệu thì tiếp tục học luật và dạy văn ở trường Thăng Long. Hai chúng tôi cùng sống ở gác 40, phố Hàng Than (“Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”), ở tầng dưới là anh Lưu Trọng Lư. Chúng tôi dành dụm tiền học bổng và tiền lương dạy học để cho tái bản tập Thơ thơ và cho in dòng chữ “Huy Xuân xuất bản” lên sách.


Đọc thêm tại : http://thisivietnam.blogspot.com/2015/07/ong-gop-lon-cho-nen-van-hoc-cua-nha-tho.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ xuân diệu, nha tho xuan dieu

Đóng góp lớn cho nền văn học của nhà thơ Xuân Diệu

      Các công trình nghiên cứu của Xuân Diệu không chỉ có giá trị ở ma lực đặc biệt của ngôn ngữ và văn phong mà có giá trị trước hết ở tính bao quát và sự đạt tới chân lý trong nhiều tác phẩm; trong đó nhiều tác phẩm của Xuân Diệu để cập đến những tác giả và tác phẩm rất lớn và rất khó, đã từng đẻ ra các cuộc tranh luận dài trong quá khứ, chỉ đến khi Xuân Diệu thấu đáo bình giá mới coi là định hình. Các tác phẩm đi sâu vào nghề nghiệp làm thơ của Xuân Diệu là cả một kho tàng kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn và từ vốn học thức uyên bác của ông.

Tuyển tập Xuân Diệu



Xuân Diệu viết truyện ngắn, viết bút ký, dịch thuật, và trong lĩnh vực nào ông cũng đạt tới mức xuất sắc, nhưng hoạt động sáng tác chủ yếu của ông vẫn là làm thơ. Thơ anh là tiếng ca của một trái tim dào dạt yêu đời, yêu người, yêu nước, yêu dân. Phong cảnh Việt Nam, thiên nhiên Việt Nam, con người Việt Nam in dấu vết trên suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ thơ Xuân Diệu. Xuân Diệu ca tụng sự nghiệp anh hùng của quân dân ta trong hai cuộc kháng chiến, ca tụng sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước và bảo vệ hoà bình, ca tụng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đề tài trong thơ ông rất đa dạng, nhưng để tài ông say mê nhất, tập trung nhất và cũng thành công nhất là đề tài tình yêu. Trong mấy chục năm qua trong hành trang của lứa tuổi đôi mươi, không thế thiếu được thơ tình Xuân Diệu. Kể từ xưa tới nay, có thể coi Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tình say mê nhất và phong phú nhất.

Những di sản tinh thần mà Xuân Diệu để lại cho chúng ta là những di sản đẹp đẽ và là những di sản lâu bền, có thể truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, di sản không chỉ có giá trị trong nước mà còn có giá trị quốc tế.

Tất cả những giá trị ấy đều hắt đầu từ trái tim ông, trái tim lớn của ông hầu như không biết đến sự phai tàn. Trái tim Xuân Diệu vẫn thường chống lại sự già cỗi, chống lại sự ươn hèn. Sao trái tim ấy hôm nay ngừng đập. Một cây lớn đổ xuống làm cho cả một khoảng trời trống vắng. Tổn thất này, biết rằng chẳng thể nào tránh khỏi mà sao đến sớm thế, đột ngột thế, và biết lấy gì để bù đắp!



Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ tình xuân diệu, nhà thơ xuân diệu